Đối với thị trường Việt Nam, giai đoạn 1991- 2000 do cải thiện hơn trước đời sống nhân dân được nhu cầu tiêu dùng đồ uống tăng, nên việc đầu tư vào ngành Rượu - Bia - Nước giải khát đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, do sự đầu tư thiếu quy hoạch nên giai đoạn này dẫn tới một số hạn chế nhất định.
Thứ nhất, sự phát triển tràn lan không có quy hoạch đã dẫn tới việc đầu tư không hiệu quả, không phát huy hết công suất lắp đặt, nhiều sản phẩm không đạt chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nạn làm hàng giả, hàng nhái không nhãn mác gây rối loạn thị trường.
Thứ hai, do cung tăng nhanh hơn cầu, làm cho sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Nhiều doanh nghiệp đã phải sử dụng các biện pháp cạnh tranh như bán phá giá, tăng chi phí quảng cáo, khuyến mại, dẫn tới một số doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài, không có khả năng trả nợ vốn đầu tư.
Sản xuất Bia
Ngành công nghiệp sản xuất bia được người Pháp đưa vào nước ta cuối thế kỷ XIX. Nền tảng đầu tiên cho cả ngành bia là hai nhà máy ở hai đầu đất nước. Xưởng sản xuất Bia Chợ Lớn (tiền thân của Nhà máy Bia Sài Gòn sau này) ra đời năm 1875, do một quân nhân người Pháp, Victor Lurue mở xưởng. Còn ngoài miền Bắc, xưởng bia đầu tiên mang tên Hommel, ông Alfred Hommel (cũng người Pháp) mở ra tại làng Đại Yên, Ngọc Hà năm 1890 (tiền thân của Nhà máy Bia Hà Nội sau này). Cả hai xưởng bia đều rất thô sơ, lao động hoàn toàn thủ công do hai người Alfred Hommel và Victor La Rue làm quản lý.
Ở miền Nam, xưởng sản xuất Bia Chợ Lớn thành lập năm 1875. Đến năm 1910, xưởng sản xuất Bia Chợ Lớn phát triển thành một nhà máy hoàn chỉnh, sản xuất bia, nước ngọt và nước đá.
Tháng 9 năm 1927, nhà máy được chính thức sáp nhập vào hệ thống hãng BGI của Pháp và 50 năm sau (năm 1977), được Công ty Rượu Bia Miền Nam quản lý. Từ đó, Nhà máy được đổi tên thành Nhà máy Bia Sài Gòn, chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ là đơn vị quốc doanh hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Trụ sở Công ty Bia Sài Gòn trên đường Nguyễn Chí Thanh, TP Hồ Chí Minh
Tại miền Bắc, từ xưởng bia Hommel được thành lập năm 1890, đến năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, quân Pháp rút lui, tháo dỡ toàn bộ máy móc để lại nhà máy bia Hommel ở trong tình trạng hoang phế. Năm 1957, nhà máy được khôi phục theo chính sách phục hồi kinh tế của Chính phủ và đổi tên thành Nhà máy bia Hà Nội.

Công ty Bia Hà Nội trên đường Hoàng Hoa Thám
Ngày 1 tháng 5 năm 1958, mẻ bia thử đầu tiên được thực hiện thành công với sự giúp đỡ từ các chuyên gia bia của Tiệp Khắc. Ngày 15 tháng 8 năm 1958, chai bia đầu tiên của Việt Nam mang nhãn hiệu Trúc Bạch ra đời, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong ngành công nghiệp sản xuất bia tại Việt Nam. Cũng từ đây, ngày 15 tháng 8 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Bia Hà Nội.
Giai đoạn 1976-1985, thị trường Bia chưa được hình thành theo đúng nghĩa bởi quy mô nhỏ bé, tính chất bao cấp nặng nề. Trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung thời kỳ bao cấp, nhà nước độc quyền sản xuất tiêu thụ rượu bia. Bia khi đó được coi là hàng hóa xa xỉ, chỉ có một bộ phận nhỏ dân số có điều kiện kinh tế được dùng bia. Việc sản xuất và kinh doanh bia chỉ có ở các cơ sở của Nhà nước.
Từ năm 1986 đến những năm 90 với chính sách mở cửa Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, các cửa khẩu đường biên được mở, lập tức các loại đồ uống từ Trung Quốc nhanh chóng theo chân nhiều tiểu thương “lấn sân” sang thị trường Việt Nam, trong đó đáng chú ý là Bia Vạn Lực và Bia Thanh Đảo. Thời điểm này, Bia Sài Gòn và Bia Hà Nội đều rất khó mua, người dân phải xếp hàng để mua bia. Chất lượng bia tốt nhưng tiếc rằng sản lượng còn rất thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nên bia Vạn Lực, bia Thanh Đảo của Trung Quốc có cơ hội tràn vào thị trường Việt Nam nhờ giá rẻ, gây thất thu thuế Nhà nước.

Trước tình hình đó, Hiệp hội kiến nghị nên tự phát triển bia trong nước và được giao nhiệm vụ lập dự án “Chiến lược phát triển ngành Rượu - Bia - Nước giải khát từ năm 1993 đến 2005” trình Chính phủ và được phê duyệt.
Thời gian đó khắp nơi, một bầu không khí sản xuất bia thủ công thật sôi nổi, chỗ nào có mặt bằng và có điều kiện sản xuất đều làm bia, nhất là tận dụng các khu vực sản xuất như mì sợi trước đây không còn nguyên liệu sản xuất ở Vinh (Nghệ An), Thanh Hóa, Bắc Giang, Nam Định, Hải Dương… đều chuyển sang nấu bia. Nhiều nơi trong phạm vi chưa đầy 1 ha đã có 4 đến 5 cơ sở sản xuất bia thủ công. Hiệp hội đã cùng các cơ quan Nhà nước tổ chức “Hội nghị đầu bờ” tức là mở những cuộc họp rút kinh nghiệm ngay tại các cơ sở sản xuất để cùng nhau trao đổi kinh nghiệm như ở Nam Định, Tam Điệp… Nhờ vậy, sản lượng, chất lượng tăng dần, bia nước ngoài nhập lậu cũng giảm dần.
Hiệp hội đã tư vấn cho một số nơi làm bia “ĐA” như Vida (Vinh, Nghệ An), Habada (Hà Bắc), Nada (Nam Định)… nhưng rồi do phát triển của nhiều “ĐA” thành “Hội chứng bia ĐA”. Lượng bia quá lớn, tiêu thụ không hết, sản lượng bia bị lỗ, Hiệp hội đã tư vấn cho Nhà nước để khoanh nợ những bia “ĐA” đến lúc bia tiêu thụ được.
Hiệp hội còn tư vấn cho các cơ quan Nhà nước thẩm định các nhà máy liên doanh với nước ngoài như Heineken (ở Thành phố Hồ Chí Minh), bia BGI (ở Tiền Giang), bia San Miguel (Khánh Hòa)…
Khó khăn lúc bấy giờ là thiếu ngoại tệ để nhập malt, Hiệp hội đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp nghiên cứu sản xuất malt bằng đại mạch trồng trong nước. Chương trình này cũng đã làm ra mấy tấn malt đưa vào sản xuất tại Nhà máy Bia Hà Nội cho kết quả tốt, khi thử nếm bia không phân biệt được đâu là malt nội đâu là malt ngoại. Tuy nhiên chương trình này không thành công do nhiều nguyên nhân.
Ngành Bia Việt Nam từ sau năm 1992 thực sự phát triển nhảy vọt trở thành một ngành công nghiệp lớn có nhiều triển vọng phát triển. Các nhà máy bia của Việt Nam không ngừng mở rộng trên phạm vi cả nước, đi đôi với đó là chính sách mở cửa của Nhà nước, nhiều hãng bia lớn trên thế giới đã xây dựng nhà máy tại Việt Nam như Heineken Việt Nam, Carlsberg Việt Nam, AB Inbev Việt Nam.

Mẻ bia Tiger sản xuất đầu tiên tại Việt Nam năm 1993.
Cùng với hợp đồng liên doanh với Công ty Thực phẩm Công nghệ (nguyên là công ty thành viên của Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn SATRA), Heineken đã bắt đầu hoạt động tại Việt Nam với Nhà máy đầu tiên ở Hóc Môn (1991-1993). Năm 1993, Tiger - thương hiệu bia nổi tiếng nhất tại Việt Nam - lần đầu tiên được sản xuất trong nước. Năm 1994, nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, nhà máy Hóc Môn lần đầu tiên sản xuất bia Heineken. Carlsberg là một trong những công ty đa quốc gia Đan Mạch đầu tiên vào Việt Nam và đầu tư lần đầu vào năm 1993. Theo số liệu thống kê của Bộ Công nghiệp (cũ), từ năm 1991 - 1995, sản lượng bia cả nước đạt mức tăng trưởng cao. Nguyên nhân chính là do thời kỳ này, hàng loạt các nhà máy, cơ sở sản xuất mới được xây dựng và đi vào sản xuất.
Từ những năm 1990 đến 2000, sản lượng bia tăng nhanh, đạt bình quân 8 lít/người năm 1999. Tổng số tiền đầu tư vào ngành sản xuất bia lên đến gần 5.500 tỷ đồng, thu nộp ngân sách cho Nhà nước xấp xỉ 3.000 tỷ đồng, mang lại việc làm cho hơn 17.500 lao động trực tiếp và hàng vạn lao động trong những ngành liên quan.
Vào thời điểm đó, các cơ sở sản xuất bia được phân bố ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Tuy quy mô và mức độ chất lượng khác nhau, nhưng đã đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường. Tuy nhiên, tính về hiệu quả kinh tế và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, thì cần phải có sự quy hoạch lại mang tính thống nhất chung cho toàn ngành.
Giai đoàn này, Tổng công ty Bia - Rượu - NGK Việt Nam (VINABECO) là doanh nghiệp nhà nước và là doanh nghiệp dẫn đầu về sản lượng và thị phần bia. Nếu tính bình quân trong giai đoạn (1995-2001), sản lượng bia tăng 10%, chiếm gần 40% thị phần trong nước và bước đầu được xuất khẩu. Hai công ty lớn của Tổng công ty là Công ty Bia Sài Gòn đã nâng công suất từ 140 triệu lít lên 160 triệu lít/năm và Công ty Bia Hà Nội công suất từ 50 triệu lít/năm lên 100 triệu lít/năm. Để bắt nhịp với cơ chế thị trường, hai doanh nghiệp đầu ngành đã nhanh chóng đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đủ sức cạnh tranh với các hãng nổi tiếng trên thế giới.

Trong vòng 10 năm (1991 - 2000), ngành Bia có tốc độ tăng trưởng khá nhanh (sản lượng tăng hơn 7 lần, mức tiêu thụ tăng 6 lần, tạm đáp ứng đủ nhu cầu trong nước). Trong đó, 2 cơ sở quốc doanh trung ương là Công ty Bia Sài Gòn và Công ty Bia Hà Nội luôn giữ được tỷ trọng lớn (chiếm 41,6% thị phần bia cả nước) và làm ăn có hiệu quả nhất (nguồn: Bộ Công nghiệp cũ) (số liệu theo kỷ yếu Đồ uống Việt Nam 10 năm đổi mới và hội nhập, trang 52).
Sau hơn 10 năm kể từ khi dự án FDI được triển khai thực hiện, đến nay đã có 38 dự án, với số vốn là 722,18 triệu USD vào thực hiện (chiếm 54,4% tổng vốn đầu tư đăng ký). Trong đó, 30 dự án đã sản xuất - kinh doanh đạt tổng doanh thu 2.079,2 triệu USD, còn lại là các dự án đang xây dựng cơ bản. Trong các dự án này, dự án Nhà máy Bia Việt Nam với công suất 150 triệu lít/năm sản xuất các loại bia chai, bia lon nhãn hiệu nổi tiếng Heineken và Tiger, tổng vốn đăng ký 93 triệu USD là dự án hoạt động có hiệu quả nhất (nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
Thời kỳ này, phần lớn các cơ sở sản xuất bia ở nước ta được đầu tư trang thiết bị và công nghệ hiện đại như Công ty Bia Sài Gòn, Công ty Bia Hà Nội, các nhà máy liên doanh. Một số cơ sở mới hình thành và cải tạo lại, sử dụng phương pháp lên men công nghệ mới, giảm tiêu hao năng lượng, thao tác vận hành vệ sinh, thuận lợi, với thiết bị hiện đại tự động hoá một phần. Nhưng vẫn còn nhiều cơ sở ở địa phương với công suất nhỏ, thiết bị sản xuất trong nước không đồng bộ, dẫn đến chất lượng sản phẩm chưa cao.
Sản xuất Rượu
Lịch sử rượu thủ công ở nước ta có hàng nghìn năm, song rượu sản xuất công nghiệp bắt đầu được hình thành khi người Pháp xây dựng nhà máy rượu từ cuối thế kỷ XIX tại 2 miền Nam, Bắc. Ở cả miền Nam và miền Bắc, việc ra đời ngành công nghiệp sản xuất rượu có một ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển sau này của ngành Rượu nước ta.

Hình ảnh Nhà máy Rượu Hà Nội
Việt Nam có khá nhiều làng nghề nấu rượu truyền thống. Từ khoảng cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, ngành Rượu mới chỉ là một nghề thủ công truyền thống với phương pháp chưng cất thủ công đơn chiếc. Thời kỳ này, chính quyền khuyến khích người dân nấu rượu để thu thuế, nhưng do hiện tượng trốn và khai man thuế nên thuế rượu thu được không nhiều. Có thể nói, ngành công nghiệp sản xuất rượu ra đời ở miền Bắc sớm hơn so với miền Nam, khi mà vào năm 1898, Công ty Fontaine đã xây dựng Nhà máy Rượu Hà Nội, tại số 94 phố Lò Đúc, Hà Nội, đây cũng là nhà máy rượu có tuổi thọ lớn nhất ở Việt Nam hiện nay. Còn ở phía Nam, cho đến năm 1902, Hãng rượu Fontaine xây dựng Nhà máy Rượu Bình Tây, nghề thủ công nấu rượu ở phía Nam chính thức chuyển thành ngành công nghiệp sản xuất rượu từ đây.
Sau này, vào ngày 01 tháng 05 năm 1901, toàn quyền Đông Dương thành lập Công ty Pháp nấu rượu Đông Dương, chính thức đánh dấu sự ra đời của ngành công nghiệp sản xuất rượu trên toàn cõi Việt Nam.
Trong những năm trước giải phóng (trước 1954), sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất rượu của chúng ta luôn gắn với những bước thăng trầm của các nhà máy rượu thuộc Công ty Pháp nấu rượu Đông Dương. Cũng trong suốt thời gian này, mặc dù phải chịu các lệnh cấm và hình phạt gắt gao của chính quyền cai trị, nhưng một lượng rượu lớn vẫn được sản xuất bằng phương pháp thủ công từ các hộ nấu rượu lậu. Tuy nhiên, do nhận được nhiều lợi thế từ chính sách bảo hộ, mà rượu công nghiệp thời kỳ này vẫn đạt được những bước tăng trưởng đáng kể, cả về công suất và doanh thu. Công ty nấu rượu Đông Dương đã tăng công suất của Công ty Rượu Hà Nội từ 2,5 triệu lít/năm lên 7,5 triệu lít/năm vào sau năm 1930. Trong thời kỳ 10 năm từ 1934 đến 1944, ngành Rượu chiếm đến 8,32% tổng doanh thu thuế toàn Đông Dương. Trong đó, riêng Hãng Fontaine chiếm đến 6,57%. Năm 1943, toàn ngành rượu đóng 10,62% thuế Đông Dương, trong đó, Công ty Rượu Fontaine đóng đến 8,35%. Chính nhờ những thành tựu này, mà giai đoạn này được coi là thời điểm tăng trưởng mạnh của ngành Rượu so với các ngành khác.
Chính việc du nhập của các nhà sản xuất rượu từ Pháp mà ngành công nghiệp Rượu Việt Nam được kế thừa những công nghệ sản xuất mới, dần thay thế cho phương pháp sản xuất truyền thống, giúp nâng cao chất lượng và năng suất, đa dạng hoá sản phẩm. Nhờ những nhà máy rượu mà chúng ta có thể sản xuất được rượu chất lượng cao và cồn cao độ phục vụ cho y tế và đời sống.
Thị trường rượu ở Việt Nam những năm 2000 chủ yếu là các sản phẩm rượu do dân tự nấu ước khoảng 200 triệu lít/năm. Trong đó, rượu do các cơ sở sản xuất trung ương và địa phương chiếm khoảng 72 triệu lít. Ngoài ra, còn khoảng gần 10 triệu lít là rượu nhập ngoại bằng các con đường khác nhau (nhập khẩu và nhập lậu). Trong giai đoạn này, ngành chưa quản lý và điều phối được nhu cầu tiêu dùng về rượu. Nói chung, ngành sản xuất rượu Việt Nam hoạt động chưa ổn định. Trừ một số cơ sở liên doanh và đầu tư 100% vốn nước ngoài, còn đại đa số các cơ sở trong nước, kể cả Trung ương và địa phương trình độ thiết bị, công nghệ đều lạc hậu, không đồng bộ, chưa đủ điều kiện để sản xuất các loại rượu có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Sản xuất Nước giải khát
Từ thế kỷ XIX, dân tộc ta vẫn sử dụng các đồ uống truyền thống như nước chè, nước vối. Tuy vậy, chúng ta bắt đầu có cơ hội khai thác các loại nước thiên nhiên quý giá khi người Pháp và người Hoa du nhập vào Việt Nam khai thác những công trình nước khoáng để đóng chai. Đây là thời điểm để ngành Nước giải khát chính thức hình thành. Các doanh nghiệp cơ sở bắt đầu sản xuất, đi đầu có Nhà máy sản xuất nước ngọt Chương Dương (lúc đầu là một bộ phận của Nhà máy bia Chợ Lớn và một số cơ sở nhỏ của người Hoa ở Chợ Lớn như Cơ sở sản xuất Xá xị Phương Toàn (nay là kho của Tổng Công ty bia Tân Thành); cơ sở sản xuất nước quả Vita (nay là kho của Công ty nước giải khát Chương Dương ở Khánh Hội)... Năm 1950, Tập đoàn BGI xây dựng công ty Usine Belgique, đến cuối năm 1952, công ty này bắt đầu đi vào sản xuất với 5 dây chuyền và các trang thiết bị hiện đại vào loại bậc nhất lúc bấy giờ, cùng 300 công nhân hoạt động 2 đến 3 ca một ngày. Nhà máy sản xuất gần 15 chủng loại nước giải khát có gas, với công suất sản xuất nước ngọt lớn nhất vào năm 1970 là 82,3 triệu lít/năm. Ngoài ra, các nhà máy ở Cần Thơ, Nha Trang, Quy Nhơn và Đà Nẵng cũng được trang bị khá hiện đại và tuân thủ đầy đủ về các điều kiện thực phẩm.
| Năm |
1999 |
2000 |
| Sản lượng (Triệu lít) |
460 |
670 |
Nguồn: Bộ Công Thương
Ngành Nước giải khát Việt Nam trước những năm 1990 chỉ có hai cái tên Nước khoáng Vĩnh Hảo và Xá xị Chương Dương tại khu vực phía Nam. Đầu thập niên 90, các thương hiệu nước ngọt quốc tế bắt đầu du nhập vào Việt Nam là Pepsi và Coca-Cola, cùng với đó là sự xuất hiện của hàng loạt các doanh nghiệp nội như Công ty CP Nước giải khát Sài Gòn (Tribeco) và Tập đoàn Tân Hiệp Phát.
Những năm 1996, nước giải khát không gas (nước hoa quả, nước tinh lọc và nước khoáng) trở thành xu hướng chính của người tiêu dùng. Theo thống kê của Bộ Công Thương (Bộ Công nghiệp cũ), giai đoạn 1986- 1996, nước giải khát có ga chiếm khoảng 70% và nước giải khát không gas chiếm khoảng 30% Thống kê của Bộ Công Thương năm 2000, công suất thiết kế toàn ngành Nước giải khát đạt 993,2 triệu lít/năm, sản lượng đạt 670 triệu lít/năm. Một số đơn vị sản xuất nước giải khát trong nước có tốc độ tăng trưởng nhanh (bình quân từ 13-15%/năm). Nước giải khát là ngành phục vụ xã hội, thuế suất thấp, nhưng nhờ sản lượng sản xuất hàng năm của toàn ngành tăng cao, nên đã có đóng góp không nhỏ cho ngân sách Nhà nước và chiếm vị trí quan trọng trong ngành Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam.
Công tác đầu tư được ngành Nước giải khát chú trọng, với các hình thức đầu tư chiều sâu, đầu tư xây dựng nhà máy mới, đầu tư liên doanh với nước ngoài và đầu tư 100% vốn nước ngoài trên các lĩnh vực nước giải khát (nước ngọt pha chế, nước trái cây, nước tinh lọc, nước khoáng). Từ năm 1990-2000, tổng mức đầu tư của ngành Nước giải khát đạt 3.570.283 triệu đồng.
Tiêu biểu về công tác đầu tư liên doanh với nước ngoài là Pepsi và Coca- Cola. Pepsi vào thị trường Việt Nam từ năm 1992 và liên doanh với Công ty CP TM – Du lịch Sài Gòn với vốn đầu tư 110 triệu USD và xây dựng nhà máy sản xuất nước ngọt có công suất 198 triệu lít/ năm, tạo việc làm cho khoảng 1.000 lao động. CocaCola hoạt động tại thị trường Việt Nam từ năm 1998, với tổng số vốn đầu tư 358,6 triệu USD, tạo việc làm cho gần 1.500 lao động.
Trong vòng 10 năm trở lại đây, ngành sản xuất nước giải khát đã phát triển nhanh chóng, tăng nhanh về sản lượng và số cơ sở, đa dạng hóa chủng loại, phân bổ trên khắp đất nước, đem lại nhiều lợi nhuận. Tính tới năm 2000, cả nước đã có 198 cơ sở với công suất thiết kế trên 1.000 triệu lít, nhưng mới đạt sản lượng khoảng 400 triệu lít.
Thời kỳ này, ngành Rượu – Bia - Nước giải khát trên thế giới và khu vực đang phát triển mạnh, nhiều thành tựu mới về khoa học, công nghệ, thiết bị, nguyên vật liệu... được ứng dụng vào trong sản xuất của ngành mang lại hiệu quả to lớn. Vì vậy, Hiệp hội, mà hạt nhân là Tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo chuyên đề với các Hãng trên thế giới, phổ biến cho các thành viên trong và ngoài Hiệp hội những thông tin mới, để nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn tại doanh nghiệp.
Hội nghị Hiệp hội Bia châu Á Thái Bình Dương được tổ chức vào tháng 4 năm 1999 tại Hà Nội có ý nghĩa to lớn, không những tiếp thu được kiến thức mới của thế giới mà còn tạo mối quan hệ giữa Hiệp hội Rượu-Bia Nước giải khát Việt Nam với khu vực.
Các cuộc hội thảo chuyên đề như: Hội thảo về sử dụng enzyme của hãng NÔ VÔ Đan Mạch; Hội thảo về bảo quản và sử dụng malt của CANADA; Hội thảo về sử dụng những thiết bị - công nghệ mới của Hãng ALFALAVAN; Hội thảo về sử dụng nước sạch và môi trường... có tác dụng rất thiết thực đối với ngành sản xuất Rượu-Bia-Nước giải khát đang trên đà phát triển của nước ta.
Ngành Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam trong những năm qua có tốc độ phát triển nhanh, song, trong cơ chế thị trường cạnh tranh quyết liệt, đã phát sinh nhiều tiêu cực về chất lượng sản phẩm không đảm bảo, hàng giả, hàng kém chất lượng, nhãn mác giả, nhái nhãn mác, nhập lậu, trốn lậu thuế… Trong tình hình đó, Hiệp hội, mà hạt nhân là Tổng công ty Rượu – Bia – Nước giải khát Việt Nam đã có những cuộc hội thảo cùng với CODEX Việt Nam tổ chức cuộc hội thảo về quản lý, tiêu thụ và sử dụng nước khoáng, các cuộc hội thảo về bia, rượu…
Hiệp hội đã tổ chức họp và có văn bản báo cáo Quốc hội, Uỷ ban Ngân sách của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan đề nghị bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh các chính sách thuế bia hơi, bia chai, bia lon; thuế các loại rượu, việc dán tem rượu ngoại nhập; việc không cho đầu tư tiếp và đầu tư mở rộng các nhà máy bia và nước ngọt có ga có vốn đầu tư nước ngoài; việc không cho đầu tư tiếp các nhà máy bia địa phương có công suất nhỏ, thiết bị hiện đại và bằng vốn vay...
Tổng công ty Rượu-Bia- Nước giải khát Việt Nam là một tập đoàn doanh nghiệp lớn của Nhà nước và là hạt nhân của Hiệp hội đã giúp đỡ một số nhà máy bia địa phương giải quyết khó khăn về kỹ thuật, công nghệ, để chúng hoạt động có hiệu quả như Nhà máy Bia Sóc Trăng.
Từ những ngày đầu tiên, Hiệp hội đã rất quan tâm tới công tác truyền thông, cung cấp thông tin chuyên ngành trong lĩnh vực Đồ uống. Năm 2000, Hiệp hội đã xuất bản cuốn Đặc san thuộc Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Đồ Uống Việt Nam ngày nay) – cơ quan thông tin lý luận của Hiệp hội. Đặc san đã có những bài viết chuyên sâu về khoa học công nghệ và những ứng dụng về khoa học công nghệ, những kinh nghiệm bổ ích cho các doanh nghiệp trong Ngành và kịp thời phản ảnh hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong Hiệp hội. Từ đó đặc san trở thành kênh truyền thông hiệu quả và là cầu nối tạo nên sự giao lưu, học hỏi giữa các doanh nghiệp với Hiệp hội và giữa các doanh nghiệp trong Ngành.
Hiệp hội đã có công văn và mẫu biểu gửi tất cả các hội viên của Hiệp hội, cung cấp các số liệu của đơn vị về thiết bị, công nghệ, kết quả sản xuất kinh doanh, thị trường, kiến nghị… gửi về Ban thường trực của Hiệp hội để tham gia cùng Tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam xây dựng chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển ngành Rượu – Bia – Nước giải khát và Bao bì Việt Nam đến năm 2020.
Trong hoạt động xúc tiến thương mại, Hiệp hội đã tổ chức thành công Hội chợ Đồ uống Việt Nam 2000 tại Trung tâm triển lãm Giảng Võ.