Tuy nhiên, so với thế giới, các doanh nghiệp trong ngành cũng còn có nhiều khó khăn về nguyên liệu sản xuất, khó khăn về vấn đề nhận thức thương hiệu, thị trường... cần có sự giúp đỡ của Nhà nước ở tầm vĩ mô và sự liên kết các doanh nghiệp trong ngành, sự nỗ lực vươn lên của chính các doanh nghiệp để Ngành có bước phát triển hơn nữa, đóng góp to lớn hơn trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Với chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Bia - Rượu - Nước giải khát đến năm 2020 (Ngành sẽ sản xuất 4,1 tỉ lít bia) và định hướng đến năm 2025, chắc chắn ngành Bia sẽ ngày càng phát triển hơn nữa.
Thực hiện chủ trương thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp ngành bia HABECO và SABECO, Bộ Công Thương đã chuẩn bị lộ trình thoái vốn. Hình thức là sẽ cho đấu thầu rộng rãi. Hiện Nhà nước đang sở hữu 89,59% vốn SABECO và 82% vốn tại HABECO. Hai hãng bia này hiện đang chiếm tổng cộng khoảng 60% thị phần bia trong nước, trong đó thị phần của SABECO “áp đảo” với khoảng 40% thị phần.
Việc nhà nước thực hiện thoái vốn tại HABECO và SABECO khiến cho các nhà đầu tư ngoại rất háo hức để tăng vốn sở hữu tại hai đơn vị này. Hiện, tỉ lệ vốn hóa của HABECO và SABECO là rất lớn, lần lượt đạt gần 19 nghìn tỉ đồng và hơn 150 nghìn tỉ đồng, do vậy nếu nhà đầu tư nào muốn sở hữu lượng lớn Cổ phần tại hai đơn vị này, hoặc để nắm giữ được lượng Cổ phần chi phối thì cũng cần tới khoảng 10 nghìn tỉ đồng với HABECO và hơn 75 nghìn tỉ đồng đối với SABECO.
Năm 2003, Bộ Công nghiệp ban hành Quyết định số 74 và 75/2003/QĐ-BCN về việc thành lập Tổng Công ty Bia - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO), tiền thân là Nhà máy Bia Sài Gòn và Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội (HABECO), tiền thân là Nhà máy Bia Hà Nội và chuyển một số công ty bia trong khu vực miền Bắc và miền Nam thành các đơn vị thành viên của hai Tổng công ty này. Đây là bước quan trọng để Bia Sài Gòn, Bia Hà Nội khẳng định vị thế của mình trong giai đoạn hội nhập.

Nguồn: VBA tổng hợp
Ngành Bia Việt Nam giai đoạn 2001-2007 có bước phát triển cao, tốc độ tăng trưởng vượt kế hoạch đề ra, hoàn thành sớm hơn dự định. Riêng SABECO và HABECO chiếm phần lớn sản lượng bia của cả nước, góp phần đáng kể vào ngân sách nhà nước, doanh thu năm sau cao hơn năm trước, thị phần ngày một vươn xa.
Bia chai, bia hơi, bia lon có tốc độ tăng trưởng bình quân từ 10-12%. Trên thị trường Việt Nam có các nhãn hiệu bia nội như Sài Gòn, 333, Saigon Special, Saigon Export, các nhãn hiệu bia của HABECO..., hàng loạt các nhãn hiệu bia địa phương như Bến Thành, Nada, Huda, Festival... và hàng loạt nhãn hiệu bia nổi tiếng như Tiger, Heineken, Coors Light, Poster Lager, Larue, BGI, Bivina, Carlsberg và Halida.
Trong đó, năm 2007 là năm thành công của ngành Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam, với doanh thu chiếm gần 10% doanh thu của toàn ngành Công nghiệp. Sản lượng Bia năm 2007 của toàn ngành đạt 1,8 tỷ lít, rượu đạt 300 triệu lít (theo số liệu đăng trên Tạp chí Đồ Uống Việt Nam tháng 1+2/2008).

Ngày 25/3/2008, VBA tổ chức Tọa đàm “Chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng rượu, bia” thu hút nhiều đại biểu tham dự.
Thời kỳ này, cả nước có trên 300 doanh nghiệp sản xuất bia với hơn 400 nhà máy tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội chiếm 13%, TP Hồ Chí Minh chiếm 23%, Hải Phòng hiện 8%. Trong số này, chỉ có số ít các công ty được trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại, tiên tiến, được đầu tư chiều sâu và tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất. Hiện tại, một số công ty sản xuất lớn trong nước đang đẩy mạnh sức cạnh tranh.
Trong những năm qua, ngành Bia đã đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng nghìn tỷ đồng, trong đó đáng kể là thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB). Năm 2007, riêng SABECO nộp ngân sách là 2.135,798 tỷ đồng, dự kiến 2008 là 2.709,894 tỷ đồng. Năm 2007, HABECO cũng nộp vào ngân sách là 1.445 tỷ đồng, dự kiến năm 2008 sẽ nộp khoảng 1.854 tỷ đồng. (theo kỷ yếu Đồ uống Việt Nam 10 năm hội nhập và phát triển).

Nguồn: Niên giám thống kê (Tổng cục Thống kê)
Về đầu tư, Bia là mảng sản xuất đem lại doanh thu lớn nhất cho ngành Bia – Rượu - NGK Việt Nam. HABECO đầu tư một số vốn khổng lồ vào các dự án lớn, điển hình là Nhà máy Bia Hà Nội tại Vĩnh Phúc. Nhà máy này bước đầu có công suất 100 triệu lít/năm, sau đó mở rộng lên 200 triệu lít/năm (giai đoạn 2), được xây dựng từ năm 2006 – 2008. HABECO dự kiến đến năm 2010 sẽ nâng năng lực sản xuất bia lên khoảng 850 triệu lít. SABECO đã dành tổng vốn đầu tư gần 6.500 tỷ đồng đầu tư cho các dự án mới. Dự kiến đến năm 2010, SABECO sẽ đạt công suất sản xuất khoảng 1,3 tỷ lít bia và năm 2015 sẽ đạt 1,7 tỷ lít bia, chiếm 40% thị phần trong nước.

Lễ khởi công nâng công suất Nhà máy Bia Sài Gòn - Quy Nhơn lên 50 triệu lít/năm.
Năm 2008, doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt động sang cổ phần hóa, phấn đấu đưa ngành công nghiệp đồ uống ngày càng phát triển. Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn chuyển đổi thành Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải Sài Gòn và chính thức đưa vào hoạt động Nhà máy bia Sài Gòn Củ Chi, được đánh giá là nhà máy bia lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ. Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội chuyển thành Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội.

Khánh thành Nhà máy Bia Hà Nội - Mê Linh năm 2010
Trong giai đoạn này, sự liên doanh liên kết giữa các tập đoàn trở nên sôi động, đáng kể là liên doanh sản xuất giữa Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk) và SAB Miller, với công suất 100 triệu lít/năm tại Bình Dương; dự án nhà máy sản xuất bia cao cấp và thức uống có cồn do Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba) và Tập đoàn Scottish & New Castle (S&N) của Anh quốc liên doanh hợp tác, với công suất 150 triệu lít/năm. Công ty Sản xuất Kinh doanh Đầu tư và Dịch vụ Việt Hà cũng đã đầu tư xây dựng Nhà máy Bia Việt Hà II, vốn đầu tư 600 tỷ đồng tại Khu Công nghiệp Tiên Sơn – Bắc Ninh, công suất 75 triệu lít/năm; đầu tư mở rộng giai đoạn II Liên doanh Nhà máy Bia Đông Nam Á để nâng công suất từ 45 triệu lít/năm lên 150 triệu lít/năm...

Nguồn: VBA tổng hợp
Với những đặc trưng riêng, ngành Rượu đã có những đóng góp rất đáng kể vào sự phát triển của đất nước. Ngành Rượu Việt Nam chia làm hai khu vực: khu vực sản xuất rượu công nghiệp (từ các nhà máy, công ty có hệ thống dây chuyền, máy móc, sản xuất rượu theo phương pháp hiện đại) và khu vực rượu thủ công (rượu do dân tự nấu, tập trung ở các làng nghề, phân bố rải rác khắp cả nước). Hàng năm, nước ta tiêu thụ khoảng 400-500 triệu lít rượu nhưng trong đó, rượu sản xuất công nghiệp chỉ chiếm trên 10%, còn đa số là rượu do dân tự nấu.

VBA phối hợp tổ chức Cuộc thi Rượu vang quốc tế năm 2007.
Công ty CP Cồn - Rượu Hà Nội và Công ty Rượu Bình Tây là hai doanh nghiệp sản xuất cồn, rượu lớn nhất Việt Nam. Năm 2004, cả nước có 72 đơn vị sản xuất rượu công nghiệp, công suất 103 triệu lít/năm, nhưng thực tế sản lượng chỉ đạt 76,3 triệu lít/năm, tương đương 74% công suất thiết kế, con số quá nhỏ so với lượng rượu tiêu thụ hàng năm. Năm 2007, Công ty CP Cồn - Rượu Hà Nội sản xuất gần 14 triệu lít rượu, nộp ngân sách Nhà nước gần 160 tỷ đồng.

Lãnh đạo Bộ Công Thương và lãnh đạo VBA làm việc với Tập đoàn rượu quốc tế Diageo tại London để thảo luận ký kết hợp đồng hợp tác chiến lược năm 2010.
Rượu làng nghề tại Việt Nam khá phổ biến nhưng chưa có thống kê số lượng làng nghề nấu rượu, công suất của các làng nghề. Rượu làng nghề không được kiểm soát, không đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm gây nguy hiểm tới tính mạng người tiêu dùng, thất thu ngân sách Nhà nước và tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh.
|
Tỉnh thành
|
Tổng thu 4 năm (triệu đồng)
|
|
Lạng Sơn
|
318,3
|
|
Phú Thọ
|
4,454
|
|
Nam Định
|
45,465
|
|
Thanh Hóa
|
504
|
|
Đà Nẵng
|
495
|
|
Đồng Nai
|
123,1
|
|
Lâm Đồng
|
5,958
|
|
Bà Rịa – Vũng Tàu
|
39,9
|
Nguồn: Theo báo cáo Cục Thuế các địa phương
Để hỗ trợ các nhà sản xuất và kinh doanh rượu vang ở Việt Nam, đầu năm 2002, Hiệp hội Rượu – Bia – Nước giải khát Việt Nam đã kết hợp với Trung tâm thử rượu quốc tế ở Luân Đôn và Câu lạc bộ báo chí tổ chức cuộc thi rượu vang quốc tế ở Hà Nội. Cuộc thi đã thu hút được gần 300 sản phẩm rượu vang nổi tiếng trên thế giới, về phía Việt Nam có 12 sản phẩm dự thi, trong đó có 2 sản phẩm đạt Huy chương Đồng và 1 sản phẩm đạt giải Khuyến khích. Đây là nguồn động lực rất lớn cho các nhà sản xuất rượu vang ở Việt Nam tin tưởng vào sản phẩm của mình, tạo điều kiện tốt cho các nhà sản xuất rượu vang xác định được định hướng sản phẩm, đồng thời cũng là cơ hội Việt Nam học hỏi kinh nghiệm về tổ chức cuộc thi cũng như phương pháp đánh giá các sản phẩm dự thi.

Lễ Ký kết hợp tác giữa Ban chỉ đạo 127/TW và VBA, giữa VBA và Diageo Việt Nam
Ngành Nước giải khát Việt Nam
Những năm 1996, nước giải khát không gas (nước hoa quả, nước tinh lọc và nước khoáng) trở thành xu hướng chính của người tiêu dùng. Theo thống kê của Bộ Công Thương (Bộ Công nghiệp cũ), giai đoạn 1996- 2006, nước giải khát có gas chiếm khoảng 67%, còn nước giải khát không gas chiếm khoảng 33%.
Đến giai đoạn này, ngành Nước giải khát đã có khoảng 400 cơ sở sản xuất, tốc độ tăng trưởng bình quân 25-28%/năm, mức tiêu thụ bình quân 5 lít/người/năm. Theo thống kê của Bộ Công Thương năm 2000, công suất thiết kế toàn ngành Nước giải khát đạt 993,2 triệu lít/năm, sản lượng đạt 670 triệu lít, thì đến năm 2007 là trên 1 tỷ lít. Trong đó, một số đơn vị sản xuất nước giải khát có tốc độ tăng trưởng nhanh (bình quân 13 - 15%/ năm) đó là Công ty Nước giải khát Chương Dương, Công ty CP Nước giải khát Sài Gòn (Tribeco). Công ty Cổ phần Nước giải khát Chương Dương đến năm 2001 doanh thu đạt trên 120 tỷ, năm 2007 doanh thu đạt 246 tỷ đồng. Công ty Tribeco, năm 2003 sản lượng đạt 7,15 triệu két/ thùng đến năm 2007 đạt 5,94 triệu két/thùng.
|
Năm
|
1999
|
2000
|
2005
|
2006
|
2007
|
|
Sản lượng
(Triệu lít)
|
460
|
670
|
911
|
1.000
|
1.200
|
Nguồn: Bộ Công Thương
Từ năm 2001-2005, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành Nước giải khát là 11,4%/năm. Ngành Nước giải khát là ngành phục vụ xã hội, thuế suất thấp, nhưng nhờ sản lượng sản xuất hàng năm của toàn ngành tăng cao, nên đã có đóng góp không nhỏ cho ngân sách Nhà nước và chiếm vị trí quan trọng trong ngành Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam.
Công tác đầu tư được ngành Nước giải khát chú trọng, với các hình thức đầu tư chiều sâu, đầu tư xây dựng nhà máy mới, đầu tư liên doanh với nước ngoài và đầu tư 100% vốn nước ngoài trên các lĩnh vực nước giải khát (nước ngọt pha chế, nước trái cây, nước tinh lọc, nước khoáng).
Tiêu biểu về công tác đầu tư liên doanh với nước ngoài là Pepsi và Coca-Cola. Pepsi vào thị trường Việt Nam từ năm 1992 và liên doanh với Công ty CP TM – Du lịch Sài Gòn với vốn đầu tư 110 triệu USD và xây dựng nhà máy sản xuất nước ngọt có công suất 198 triệu lít/ năm, tạo việc làm cho khoảng 1.000 lao động. CocaCola hoạt động tại thị trường Việt Nam từ năm 1998, với tổng số vốn đầu tư 358,6 triệu USD, tạo việc làm cho gần 1.500 lao động.
Một trong những đóng góp nổi bật của Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam trong suốt quá trình hoạt động là tích cực tham gia xây dựng, phản biện và hoàn thiện các chính sách liên quan đến ngành Đồ uống. Hiệp hội đã thường xuyên tổng hợp ý kiến của các doanh nghiệp hội viên, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức nghiên cứu và chuyên gia trong và ngoài nước để tham gia góp ý đối với nhiều dự thảo chính sách quan trọng.
Hiệp hội đã phối hợp với các doanh nghiệp lớn trong ngành và các tổ chức nghiên cứu quốc tế tổ chức nghiên cứu, xây dựng và triển khai Quy chế Marketing ngành Bia Việt Nam, nhằm hướng tới hoạt động quảng bá và tiếp thị sản phẩm có trách nhiệm. Đồng thời, Hiệp hội tiếp tục phối hợp xây dựng Quy chế Marketing ngành Rượu Việt Nam, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tham gia vào quá trình xây dựng và triển khai các chương trình quốc gia về phòng chống lạm dụng rượu, bia, đồng thời tích cực phối hợp với các cơ quan truyền thông triển khai nhiều chương trình tuyên truyền về văn hóa tiêu dùng đồ uống có trách nhiệm, “Không uống rượu, bia khi lái xe”.
Trong nhiều năm qua, Hiệp hội đã tích cực tham gia góp ý đối với nhiều chính sách quan trọng liên quan đến ngành Đồ uống như: Dự thảo “Nghị quyết về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm an toàn giao thông”; Dự thảo Luật An toàn vệ sinh thực phẩm. Tổ chức nhiều Tọa đàm, Hội thảo có ý nghĩa: Hội thảo “Nguyên liệu và kỹ thuật cho ngành Bia (2007); Hội thảo Bia Việt Nam 2007; Tọa đàm góp ý kiến vào Dự thảo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (2008); Hội thảo Công nghệ xử lý nước cho ngành Nước giải khát (2009)…
Thông qua các hội thảo, tọa đàm và các văn bản góp ý chính sách, Hiệp hội đã đưa ra nhiều kiến nghị nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa mục tiêu quản lý nhà nước và sự phát triển ổn định của doanh nghiệp.
Ngoài ra, Hiệp hội tổ chức nhiều chuyến đi thực tế nước ngoài để khảo sát tình hình quản lý rượu, bia nhằm mục đích đóng góp ý kiến cho các nhà quản lý xây dựng một chính sách phù hợp.
Kết nối cộng đồng doanh nghiệp

Lãnh đạo VBA trao Giấy chứng nhận Hội viên cho các doanh nghiệp mới gia nhập Hiệp hội tại sự kiện Gặp mặt đầu Xuân 2008
Từ khoảng 50 doanh nghiệp hội viên ban đầu, Hiệp hội đã phát triển thành một tổ chức quy tụ khoảng 110 hội viên, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất bia, rượu, nước giải khát và các đơn vị trong cung ứng như cung cấp nguyên liệu, thiết bị, công nghệ, bao bì và dịch vụ liên quan.
Truyền thông, cung cấp thông tin
Năm 2000, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, ngành Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, lúc bấy giờ, lãnh đạo Hiệp hội nhận thấy đã đến lúc ngành cần phải có một cơ quan truyền thông, lý luận, nghiên cứu, giúp ngành nói lên tiếng nói chính thức của mình. Ngày 15/5/2000, tờ Đặc san Hiệp hội Rượu – Bia – Nước giải khát Việt Nam, giấy phép xuất bản số 1236/BC – Bộ Văn hóa – Thông tin (tiền thân của Tạp chí Đồ Uống Việt Nam) chính thức được cơ quan quản lý ký quyết định thành lập. Sau thời gian thử nghiệm, năm 2002 Đặc san chuyển đổi thành Tạp chí Đồ uống Việt Nam, mở rộng đối tượng người đọc nhưng vẫn giữ được tôn chỉ, mục đích do Ban Chấp hành Hiệp hội đề ra. Để hội nhập cùng đất nước, tháng 5/2005, Tạp chí Đồ uống Việt Nam ra mắt bộ mới với nhiều nội dung phong phú, hình thức đẹp, in 4 màu với lượng phát hành lớn, mỗi tháng một số. Một trong những thành công lớn nhất trong năm 2007 là Hiệp hội và Tạp chí đã nâng cấp và đưa vào hoạt động trang website của Hiệp hội (vba. com.vn) chính thức ra mắt, trở thành kênh thông tin điện tử cung cấp chính sách, thông tin thị trường và các hoạt động của Hiệp hội tới cộng đồng doanh nghiệp.
Xuất bản – đào tạo chuyên ngành
Bên cạnh các hoạt động kết nối doanh nghiệp và truyền thông, Hiệp hội còn tích cực tham gia nghiên cứu, xuất bản và phổ biến kiến thức khoa học liên quan đến ngành đồ uống.
Trong nhiều năm qua, Hiệp hội đã xuất bản nhiều công trình có giá trị, góp phần tổng kết thực tiễn phát triển của ngành và cung cấp thông tin khoa học cho doanh nghiệp và bạn đọc. Một số ấn phẩm tiêu biểu gồm:
• Ngành Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam: Phát
huy truyền thống, hướng tới tương lai (2003)
• Dấu ấn ngành Đồ uống Việt Nam (2007)
• Đồ uống Việt Nam – 10 năm đổi mới và hội
nhập (2008)
• Đồ uống và bệnh Đái tháo đường (2009)
• Đồ uống và bệnh Ung thư (tập 1)
Những công trình này không chỉ phản ánh quá trình hình thành và phát triển của ngành Đồ uống Việt Nam mà còn cung cấp những kiến thức khoa học hữu ích liên quan đến sức khỏe cộng đồng và tiêu dùng đồ uống.
Thông qua các hoạt động nghiên cứu và xuất bản, Hiệp hội đã góp phần thúc đẩy việc ứng dụng khoa học – công nghệ trong sản xuất, kinh doanh đồ uống và nâng cao nhận thức của xã hội về lĩnh vực này.
Hoạt động xúc tiến thương mại
Trong quá trình hoạt động, Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam luôn coi tổ chức hội chợ, triển lãm chuyên ngành là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại quan trọng nhằm quảng bá sản phẩm, kết nối doanh nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của ngành Đồ uống Việt Nam.
Hiệp hội phối hợp với các đối tác tổ chức thành công Hội chợ Thực phẩm và Đồ uống (Vietfood & Drink) thường niên từ năm 2005. Hiệp hội và Tạp chí đã tổ chức
thành công nhiều sự kiện lớn như: Lễ hội Bia Việt Nam (2007); Cuộc thi Rượu Vang quốc tế Việt Nam (2007); Lễ hội Đồ uống Việt Nam (2009); Lễ hội Câu đối, Hoa và Đồ uống Tết trong suốt 3 năm 2007, 2008, 2009; Lễ hội Đồ uống Xuân (2010).
Công tác từ thiện xã hội
Hiệp hội và Tạp chí Đồ uống Việt Nam chú trọng đến công tác từ thiện xã hội. Từ năm 2006-2010, Hiệp hội và Tạp chí đã trao quà tới các thương binh tại Trung tâm điều dưỡng thương binh Thuận Thành (Bắc Ninh) và các cháu bị nhiễm chất độc da cam ở Làng trẻ em Hòa Bình (Hà Nội); ủng hộ Quỹ Vì người nghèo Việt Nam 330 triệu đồng; ủng hộ Hội nạn nhân chất độc da cam 500 triệu đồng…
Thành tích đạt được
Với những đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành Đồ uống và cộng đồng doanh nghiệp, Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý. Tiêu biểu trong đó có: Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (2008); Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (2009); Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Công Thương (2010); Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2010).
Trong 10 năm xây dựng và phát triển, Tạp chí Đồ uống Việt Nam đã có nhiều thay đổi, trở thành kênh thông tin uy tín của ngành Đồ uống. Tạp chí đã vinh dự nhận được Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (2003): Bằng khén của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch vì có thành tích xuất sắc trong việc tổ chức thành công Lễ hội Câu đối – Hoa và Đồ uống Tết 2007, 2008, 2009 và làm tốt công tác từ thiện; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2009).