Đến hôm nay, hai ấn tượng ấy không những không phai nhạt, mà dường như còn đậm nét hơn, không chỉ đối với người Hà Nội. Phải chăng đó là những dấu ấn sẽ còn đi cùng thành phố này rất lâu, có khi là mãi mãi.
Hà Nội là thế. Một thành phố không quá ồn ào, không phô trương, nhưng có những thói quen rất bền. Sau giờ làm việc, người ta không vội vã về nhà. Người ta ghé vào một quán bia đầu phố, gọi một cốc bia hơi, ngồi xuống chiếc ghế gỗ thấp, nhìn dòng người qua lại, nói với nhau vài câu chuyện không đầu không cuối.
Có khi là chuyện công việc còn dang dở, có khi là chuyện con cái trong nhà, cũng có khi chỉ là vài câu bâng quơ cho nhẹ lòng. Không ai bảo ai, nhưng cái cốc bia mát lạnh ấy dường như giúp người ta gác lại những căng thẳng của một ngày, để ngày mai lại bắt đầu.
Chính trong những điều rất đời thường ấy, bia hơi Hà Nội đã trở thành một phần của đời sống, một nếp sinh hoạt quen thuộc đến mức nhiều người tưởng rằng nó đã có từ rất lâu, thậm chí từ hàng trăm năm trước. Có người còn tra sử sách và cho rằng bia hơi Hà Nội đã ra đời từ năm 1890, khi người Pháp xây dựng nhà máy bia đầu tiên ở Hà Nội.
Nhưng sự thật lịch sử lại không như vậy. Năm 1890, một ông chủ người Pháp tên là Hommel xây dựng nhà máy bia tại Hà Nội. Nhà máy này chỉ sản xuất bia chai với sản lượng rất nhỏ, chủ yếu phục vụ người Pháp và một bộ phận rất hạn chế người Việt làm việc trong bộ máy chính quyền thuộc địa. Bia khi ấy không phải là đồ uống của số đông. Nó là một thứ xa xỉ phẩm, xa lạ với đời sống người dân bình thường.
Năm 1954, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Nhà máy bia Hommel được Chính phủ ta tiếp quản. Đến năm 1958, với sự giúp đỡ của Chính phủ Tiệp Khắc, Nhà máy được phục hồi và chính thức cho ra đời những chai bia đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mang một cái tên rất Hà Nội: Bia Trúc Bạch.
Nhưng dù đã là bia của người Việt, thì đó vẫn chỉ là bia chai, sản lượng ít, giá thành cao, chủ yếu phục vụ cán bộ cao cấp. Với đại đa số người lao động, bia vẫn là một thứ đồ uống xa vời, không phải là thứ để nghĩ đến, thậm chí là không biết để mà mơ.
Trong bối cảnh ấy, đời sống người dân còn nhiều thiếu thốn. Người công nhân, người thợ thủ công, người lao động phổ thông làm việc nặng nhọc ở mỏ than, nhà máy, công trường. Sau những giờ lao động vất vả, họ cần một thứ nước uống mát, dễ uống, để xoa dịu cái nóng và lấy lại sức.
Nhưng bia – như họ vẫn nghĩ – không phải dành cho họ. Thế rồi, đã có người nghĩ khác về bia. Người đó cho rằng: bia không nên chỉ là thứ đồ uống dành cho số ít, mà phải trở thành một thứ nước giải khát phục vụ người lao động.

Bác Hồ về thăm mỏ than Đèo Nai ở Quảng Ninh năm 1959
Năm 1959, trong một chuyến đi thăm công nhân mỏ than ở Quảng Ninh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp hỏi chuyện anh em công nhân. Họ không kêu khổ, không than vất vả, mà chỉ bày tỏ một mong muốn rất giản dị: sau những giờ xuống lò nóng bức, được uống một thứ nước giải khát thơm, mát, bổ để lấy lại sức. Và nếu là bia thì càng tốt.
Nghe vậy, Bác quay sang các đồng chí lãnh đạo Bộ Công nghiệp đi cùng và hỏi một câu rất thẳng thắn:
“Anh em công nhân yêu cầu như vậy, các chú có đáp ứng được không?”
Câu hỏi ấy không lớn tiếng, không mệnh lệnh, nhưng lại mở ra một hướng đi hoàn toàn mới. Sau chuyến đi đó, Bộ Công nghiệp giao nhiệm vụ cho lãnh đạo Nhà máy Bia – Nước ngọt nghiên cứu một loại bia phù hợp với người lao động, với tiêu chí rất rõ ràng: ngon – bổ – rẻ.
Đó là một yêu cầu không hề đơn giản trong điều kiện lúc bấy giờ.

Cổng Nhà máy Bia - Nước ngọt trước đây.
Và ông Võ Tiến Kỷ - Giám đốc Nhà máy Bia Nước ngọt khi đó, coi đó không chỉ là mệnh lệnh sản xuất, mà đó còn là lời nhắn nhủ từ trái tim nhân hậu của Bác Hồ: sản phẩm công nghiệp Việt Nam phải hướng về phục vụ đời sống người lao động. Và vì vậy, ông động viên CBCNV Nhà máy, quyết tâm thực hiện bằng được ý muốn của Bác.
Nguyên liệu nấu bia theo công thức châu Âu gồm malt, hoa houblon và men đều phải nhập khẩu, chi phí cao, nguồn cung không ổn định. Nếu giữ nguyên công thức ấy, bia không thể rẻ.
Các cán bộ kỹ thuật của Nhà máy đã phải tìm một con đường khác: dùng gạo – nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước – để thay thế phần lớn malt nhập khẩu, đồng thời giữ lại một tỷ lệ malt nhất định và bổ sung đường glucose để đảm bảo độ đường và hương vị.
Cách làm ấy giúp giảm giá thành, tăng sản lượng, dù chất lượng không thể so sánh với bia nấu hoàn toàn bằng malt. Nhưng đổi lại, đó là thứ bia phù hợp với mục đích ban đầu: phục vụ người lao động.
Để giảm thêm chi phí và phù hợp với thói quen sử dụng, bia không được đóng chai. Thay vào đó, bia được chứa trong các bồn lớn, các xe xì téc, chở thẳng xuống mỏ than, nhà máy. Đến nơi, bia được xả ra thùng, xô, chậu, rồi múc trực tiếp ra cốc cho người lao động uống.
Đó là thứ bia tươi mát, uống ngay, dùng ngay – rất khác với bia chai vốn xa xỉ và ít ỏi trước đó.
Và như thế, bia hơi ra đời, theo đúng tiêu chí: “Ngon - Bổ - Rẻ".
Và khi ấy, cả miền Bắc duy nhất chỉ có nhà máy Bia Nước ngọt ở Hà Nội, sản xuất được Bia hơi, do đó bia hơi được gắn liền với địa danh sinh ra nó, là Bia hơi Hà Nội.
Ban đầu, bia hơi được sản xuất để phục vụ công nhân ở các mỏ than. Sau đó, khi kinh tế miền Bắc dần ổn định hơn vào đầu những năm 1960, sản xuất bia hơi được mở rộng để phục vụ người lao động tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định.

Nhiều người thích uống Bia hơi Hà Nội ỏ vỉa hè
Ở Hà Nội, lúc đầu người dân còn lạ lẫm. Nhưng rồi, từ những xe xì téc bán bia ở các điểm công cộng, đến những thùng nhôm nhỏ bọc thép đưa vào các quán bán cố định, bia hơi dần tìm được chỗ đứng của mình trong đời sống đô thị.
Không ồn ào, không quảng bá, không khẩu hiệu, Bia hơi Hà Nội lặng lẽ đi vào đời sống người dân như một điều tự nhiên. Nó không chỉ là một loại đồ uống mới, mà là kết quả của một tư tưởng rất nhân văn: đặt người lao động ở vị trí trung tâm.
Và từ đó, Bia hơi trở thành sản phẩm của người lao động, và nó được coi là sản phẩm bình dân dành cho những người lao động bình thường.
Năm 2026 là năm sẽ kỷ niệm tròn 20 năm thành lập Công ty Cổ phần Thương mại Bia Hà Nội - HABECO Trading - Bia hơi Hà Nội, nhân dịp này, xin mời các bạn nghe lại tâm sự của ông Nguyễn Văn Hùng - nguyên Giám đốc HABECO Trading - Bia hơi Hà Nội về sự ra đời của Bia hơi Hà Nội, một câu chuyện mang đậm tính nhân văn của Bác Hồ với nhân dân lao động.
Ông Nguyễn Văn Hùng chia sẻ: Năm 2002, khi đó ông Hùng là Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam (VBA), đồng thời là Tổng biên tập Tạp chí Đồ uống Việt Nam, trong một lần giao lưu với các bậc tiền bối ngành bia, ông hân hạnh được nghe cụ Võ Tiến Kỷ, vị Giám đốc đầu tiên của Nhà máy Bia Nước ngọt (tiền thân của HABECO ngày nay) kể câu chuyện về Bác Hồ tới thăm công nhân mỏ than ở Quảng Ninh năm 1959 và sự ra đời của Bia hơi Hà Nội năm 1960.
Cụ Võ Tiến Kỷ là cán bộ miền Nam tập kết năm 1954, rồi được cử là Giám đốc đầu tiên của Nhà máy Bia Nước ngọt, sau khi ta phục hồi từ nhà máy bia Hommel năm 1958. Khi giải phóng miền Nam, cụ lại được cử về làm Giám đốc nhà máy Bia Sài Gòn.
Nguyễn Văn Hùng