Theo đó, Hiệp hội VBA ủng hộ việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm để bảo vệ sức khỏe nhân dân, giải quyết các khó khăn, vướng mắc, bất cập cũng như thực trạng đáng lo ngại về quản lý thực phẩm trong thời gian qua gây ảnh hưởng nghiên trọng tới sức khỏe, niềm tin của người tiêu dùng, tính thượng tôn pháp luật, môi trường đầu tư kinh doanh và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.

Tuy nhiên, theo Hiệp hội VBA, đối với một “Sản phẩm thực phẩm”, hiện tại đang được quản lý bởi nhiều luật chuyên ngành, Bộ, ngành khác nhau trên hai phương diện “Chất lượng” và “An toàn thực phẩm”. Về phương diện “Chất lượng” đang được quản lý theo mức độ rủi ro của sản phẩm (thấp, trung bình, cao) trong khi phương diện “An toàn thực phẩm” đang được tập trung quản lý theo “nguy cơ/khả năng gây mất an toàn”. Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, một sản phẩm “đạt” các chỉ tiêu về an toàn thực phẩm nhưng lại “không đạt” về chất lượng hoặc ngược lại đều đem lại hệ lụy đối với sức khỏe người tiêu dùng.
Vì vậy có thể cân nhắc xây dựng một luật thống nhất – Luật thực phẩm để có thể quản lý cả hai phương diện của thực phẩm như mô hình một số quốc gia EU, Mỹ v.v và thực phẩm nên được đánh giá, quản lý theo mức độ rủi ro của sản phẩm mà cách tiếp cận phù hợp này đã được quy định tại Luật số 78/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Hiệp hội VBA cũng cho biết, Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đã được bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026 trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Việc sớm đưa ra Dự thảo chi tiết Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) sẽ giúp cho quá trình xây dựng, tham vấn chính sách thiết thực, phù hợp với thực tiễn và có thể đảm bảo tính khả thi cao trong tương lai. Bởi vậy, VBA kiến nghị cơ quan soạn thảo sớm công bố Dự thảo chi tiết Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) để ngành có thời gian nghiên cứu và đóng góp ý kiến.

Trong quá trình xây dựng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cần đánh giá, rút kinh nghiệm những quy định/đề xuất mới đã gây nên những khó khăn bất cập tại hai văn bản Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/NQ-CP để đảm bảo các quy định tại Luật An toàn thực phẩm sửa đổi và các văn bản hướng dẫn không lặp lại các vướng mắc khó khăn trên. Đối với các đề xuất mới cần được đánh giá tác động toàn diện và tham vấn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, lắng nghe đầy đủ ý kiến của đối tượng chịu tác động để các quy định mang tính hài hoà, khả thi và giúp đạt được mục tiêu tăng trưởng chung của đất nước và riêng của từng địa phương và đặc biệt là đảm bảo an sinh xã hội, môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch.

Đối với nhóm chính sách 1: Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về ATTP theo hướng thống nhất chỉ một đầu mối từ trung ương đến địa phương.
Hiệp hội VBA đánh giá cao tính đúng đắn và phù hợp của định hướng này. Tuy nhiên cần cân nhắc lựa chọn đầu mối phù hợp, có khả năng quản lý toàn bộ hệ thống dữ liệu về Thực phẩm (bao gồm cả hai phương diện chất lượng và an toàn thực phẩm) đã được số hóa, đồng bộ, liên thông, tinh gọn và phân cấp, phân quyền truy cập, quản lý v.v.
Đối với chính sách 2: Chuyển việc quản lý an toàn thực phẩm từ “kiểm soát từng khâu riêng lẻ” sang “quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm”, bảo đảm quản lý chặt chẽ từ yếu tố đầu vào đến sản xuất, chế biến, lưu thông, tiêu dùng thực phẩm.
Để quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm, VBA cho rằng, cần phải có các giải pháp đồng bộ, liên thông để tránh chồng chéo hoặc tạo khoảng trống/bỏ lọt thông qua việc hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn thực phẩm đi kèm với các phương pháp kiểm nghiệm; công nhận các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện của Việt Nam; nâng cao năng lực kiểm nghiệm, cơ quan quản lý; xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc tiên tiến, đồng bộ dựa trên các tiêu chí về mức độ rủi ro của sản phẩm v.v.
Việc quản lý cần tập trung vào những điểm yếu hiện nay như các sản phẩm hiện đang nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước (hàng lậu, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, trốn thuế, không tuân thủ các quy định hiện hành v.v), hoặc những sản phẩm thực phẩm được tiêu dùng tại các chợ, quán ăn đường phố, bán qua thương mại điện tử/trực tuyến v.v.
Tư duy chuyển từ “Tiền kiểm” sang “Hậu kiểm” cần được thể hiện rõ nét vào Dự thảo Luật ATTP (sửa đổi), cần rút bài học kinh nghiệm từ Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 vừa qua. Khâu “Tiền kiểm” tức là các thủ tục đăng ký ban đầu cần đơn giản, đã chứng minh được hiệu quả như Nghị định 15 hiện nay trên cơ sở rà soát, bổ sung các lỗ hổng về quản lý thay vì siết chặt “Tiền kiểm” như quy định tại Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13.
Cần có định nghĩa rõ ràng về các loại đang được gọi chung là “thực phẩm chức năng”. Đối với các thực phẩm bổ sung thêm các vitamin và khoáng chất phổ biến mà các chức năng, vai trò đã quá rõ ràng (đã được Bộ Y tế và quốc tế thừa nhận rộng rãi, chẳng hạn sản phẩm bổ sung vitamin nhóm B, vitamin C, Taurine, Inositol, Na, Ka v.v.) thì cần có cách thực quản lý phù hợp (tức là duy trì thủ tục Tự công bố/Công bố sản phẩm), không chặt chẽ như các sản phẩm dinh dưỡng y học, bảo vệ sức khỏe, sản phẩm cho trẻ dưới 36 tháng tuổi, thực phẩm dành cho chế độ ăn đặc biệt.
Trong quá trình “Hậu kiểm”, cần có quy định rõ ràng về cách thức lấy mẫu, quy trình kiểm nghiệm, phương pháp kiểm nghiệm và quy định cơ quan trọng tài, trên cơ sở thông lệ quốc tế, đảm bảo tính minh bạch, khoa học, thừa nhận/công nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và quốc gia khác.
Đối với chính sách 3: Phòng ngừa việc sử dụng sai mục đích, dễ bị lạm dụng thành các chất nguy hại đối với nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến đưa vào sản xuất, chế biến sản phẩm thực phẩm. VBA nhất trí với nhóm chính sách này với các biện pháp phòng ngừa phù hợp tùy thuộc vào mức độ rủi ro của nguyên liệu, thành phẩm.
Đối với chính sách 4: Ưu đãi đầu tư, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm thúc đẩy phát triển các chuỗi giá trị cung ứng thực phẩm an toàn, chất lượng.
Ngành đồ uống là một trong các trụ cột của hệ sinh thái tăng trưởng của Việt Nam, hỗ trợ sản xuất, tiêu dùng, dịch vụ, mở rộng chuỗi cung ứng nội địa và tăng trưởng xanh. Với khung chính sách ổn định và có thể dự báo, cùng tổ chức thực thi đồng bộ, các bên liên quan có thể đẩy nhanh đầu tư có trách nhiệm, thúc đẩy tiêu dùng tuân thủ, củng cố mạng lưới nhà cung ứng trong nước và mở rộng các sáng kiến bền vững, đóng góp trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng.
Từ những phân tích trên, Hiệp hội VBA đề xuất cơ quan soạn thảo xem xét quy định chi tiết tại Dự thảo Luật ATTP sửa đổi để đảm bảo:
- Nhất quán & dự báo được: Tạo điều kiện cho doanh nghiệp lập kế hoạch và đầu tư với mức độ tự tin cao.
- Cắt giảm các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt, đặc biệt là đối với các sản phẩm thực phẩm có mức độ rủi ro thấp.
- Ưu tiên, cắt giảm tần suất giảm kiểm tra cho các tổ chức, cá nhân đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như GAP, HACCP, ISO v.v
- Liên thông chính sách: Nhìn nhận ngành đồ uống như một ngành kinh tế kết nối, không phải “ngách” riêng lẻ.
- Bảo vệ thị trường/các doanh nghiệp chính thống: Khuyến khích tuân thủ và cạnh tranh lành mạnh.
- Hợp tác công–tư: Đồng thiết kế các pilot thực tiễn; bảo đảm triển khai trơn tru các luật/nghị định/quy định mới.
- Thực thi ổn định: Sự nhất quán trong các chính sách thuế – quảng cáo – truy xuất; tránh thay đổi đột ngột.
- Khuyến khích đầu tư nâng cấp sản xuất, công nghệ và hiệu suất vận hành
- Ưu tiên đầu tư trọng điểm: Tập trung nâng cấp dây chuyền, giảm năng lượng & nước, nâng chất lượng, củng cố bao bì, logistics, hạ tầng hỗ trợ.
Chi tiết: TẠI ĐÂY